TÌNH YÊU
Just another WordPress.com weblog

NGŨ PHÚC

Posted on 27.01.2011 by Thiên Việt

Trích http://thienviet.wordpress.com

NGŨ PHÚC LÀ GÌ ?

 

 

Bao gồm : 1- Phúc, 2- Lộc. 3- Thọ, 4- Song Hỷ  và 5- Tài

Sống hạnh phúc là điều chẳng ai không mong ước. Đón đợi hạnh phúc, con người thường tạo ra những vật tượng trưng cho hạnh phúc, không những là vật đeo trên người mà còn là những vật trang trí trong nhà. Người Đông Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam, có chung một gốc văn hóa, nên dùng chung những hình tượng trang trí, tiêu biểu cho hạnh phúc, trong ngôn ngữ, tiểu công nghệ, kiến trúc và cả trong những vật dụng hàng ngày.

Trải qua hàng ngàn năm, mối tương quan của những vật trang trí này với ý nghĩa mong đợi hạnh phúc, dường như phai nhạt, cũng như việc chuyển ngữ từ tiếng Trung Quốc sang tiếng khác có thể làm sai lạc ý nghĩa của hình tượng biểu thị chữ phúc, nhưng nhiều hình tượng cổ vẫn còn thông dụng. Tỷ như trên nhiều bức trạm, người ta thường thấy hình con năm con giơi, để tượng trưng cho ngũ phúc, tức năm điều hạnh phúc; nhưng không mấy ai còn nhớ con giơi, viết theo chữ Trung Quốc 蝮  đồng âm với 福 cùng đọc là fú, cùng có chữ phú để ghi âm, nhưng có bộ trùng để chỉ con giơi và có bộ để biểu thị chữ phúc.

 

 

Sang tiếng Việt, chữ 蝠 đọc là bức và chữ 福 đọc là phúc, tuy nhiên hình tượng năm con giơi vẫn biểu thị năm điều hạnh phúc của chung người Trung Quốc và người Việt Nam : phúc, lộc, thọ, hỷ và tài.

Bài viết này trình bày mối tương quan giữa một số hình tượng thông thường biểu thị năm điều hạnh phúc kể trên, cùng những truyện truyền kỳ liên hệ tới những hình tưọng đó mà ngày nay ngay tại những đô thị Âu Mỹ ngày Tết người Đông Á vẫn còn dùng để đón xuân.

福 PHÚC

 

 

Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tưọng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

Từ đời nhà Minh (1368-1644), người ta thường khắc trên cánh cửa chính một chữ phúc lớn như để đón đợi hạnh phúc tới nhà, đúng như lòi cầu mong của người Trung Quốc: 福  星  高  詔, phúc tinh cao chiếu, nghĩa là sao phúc từng cao chiếu xuống hay câu: 多  福 多  壽 , đa phúc đa thọ, nghĩa là nhiều may nhiều tuổi thọ, thường dùng để chúc nhau. Ngoài hình con giơi tượng trưng cho chữ phúc, người ta còn dùng trái phật thủ hay tranh ảnh vị phúc thần và vị môn thần dán trên cửa hay khắc trên mặt cửa vào đình chùa dinh thự.

Ngày Tết nguyên đán, người Trung Quốc có tục treo thuận hoặc treo ngược chữ Phúc ở trên cửa.  Có hai truyện truyền kỳ giải thích truyện này.

Truyện thứ nhất là một truyện từ đời nhà Minh (1368-1644) về chữ phúc viết thuận. Một hôm Minh Thái Tổ, Chu Nguyên Chương, vi hành tới một thị trấn nhỏ. Nhà vua thấy một đám đông người cười rỡn bên một bức  họa. Tới gần, nhà vua thấy đó là một bức vẽ một bà già có bàn chân lớn quá khổ, tay ôm một trái dưa hấu. Nhà vua nhận ra bà già này chính là hoàng hậu.

Nổi giận, nhà vua sai quân hầu theo dõi từng người trong đám người hỗn sược này về tận nhà, và viết chữ phúc trên cửa, để ngày mai nhà vua sẽ phái quân tời bắt. Trở về hoàng cung, nhà vua kể lại truyện này cho hoàng hậu nghe. Hoàng hậu vốn sẵn từ tâm, bà khẩn sai quân hầu hỏa tốc tới thị trấn này viết chữ phúc trên cửa mọi nhà dân. Sáng mai quan quân tới sau, không còn cách nào nhận ra được những ai là kẻ bị nhà vua cho lệnh tới bắt. Từ đó, người ta tin rằng chữ phúc, viết có thể dùng làm bùa hộ mạng cho mọi người.

Truyện thứ hai là  truyền thoại từ đời nhà Thanh (1661-1911) về chữ phúc viết hay treo ngược. Chiều ba mươi tết, quan phủ lý của thái từ Cung Thân, cho lệnh treo chữ phúc trên cửa những  chính ra vào đông cung. Có một tên lính hầu không biết chữ, treo ngược chữ Phúc. Thái từ nhìn thấy, nổi giận định trừng phạt tên lính hầu này. Quan phủ lý vốn là người giầu từ tâm, liền nghĩ ra cách gỡ tội cho tên lính hầu. Quan còn biết lòng thái tử khao khát may mắn để sớm lên ngôi báu. Ngài tâu thái tử : chữ phúc treo ngược là chữ phúc đảo, 倒, theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ đáo 到, nghỉa là tới. Vậy chữ phúc treo ngược là điềm báo phúc đang tới. Thái tử hài lòng, không những không trừng phạt tên lính hầu mà còn trọng thưởng qua phủ lý và ban cho mỗi tên lính hầu năm lạng bạc. Quả là phúc đã tới với đám người này trong đêm trừ tịch đó.

Người Đông Á thường bày một bộ tam đa : phúc lộc thọ và hỷ. Theo truyền thuyết ba vị này vốn là ba vị phúc tinh, nguyên là ba ngôi sao trên trời. Giáng xuống trần gian vị phúc thần này hiện hình như một vị quan to, khuôn mặt phúc hậu, vận triều phục, tay cầm hốt ngà hay bế một đứa nhỏ kháu khỉnh.

Theo sách Tam Giáo Nguyên Lưu Sưu Thần Đại Toàn, Phúc Thần là một nhân vật có thật, tên là Dương Thành, người đất Đạo Châu, thuộc Hồ Nam. Dưới triều Hán Vũ Đế, nhà vua ra lệnh bắt nhưng ngưòi lùn về cung làm nô lệ, để hầu hạ làm vui cho nhà vua. Lệnh này khiến gia đình ngưòi lùn oán thán. Dương Thành dâng biểu xin tha cho những người lùn này, vì họ cũng là thần dân như mọi người khác, chứ không phải sinh ra để làm nô lệ. Hán Vũ Đế, nghe theo lời tâu bãi bỏ lệ bắt người lùn làm nô lệ. Gia đình người lùn biết ơn Dương Thành, đã giúp cho gia đình họ được đoàn tụ, họ bèn tôn làm Phúc Thần. Tục này lan tràn khắp Trung Quốc, và lưu truyền tới ngày nay. Tới đời nhà Đường, nhà thơ Bạch Cư Dị, sáng tác áng thơ Đạo Châu Dân 道  州  民 ca tụng công nghiệp này của Duơng Thành.

Có truyền thuyết khác kể là, theo lời Trương Đạo Lăng, một đạo sĩ sáng lập ra Huyền Lão, người đời Đông Hán thì Phúc Thần là một trong tam quan. Tam quan gồm có Thiên Quan Tứ Phúc, Địa Quan Xá Tội, Thủy Quan Giải Nguy. Địa quan xá tôi xét việc tha tội cho người chết; Thủy quan giảm tội giảm tội cho nguời chết. Thiên Quan Tứ Phúc là vị quan trên trời, coi việc ban phúc cho ngưòi còn sống, nên được người người trông đợi và chọn làm phúc thần.

Cửa ngoài nhiều đền đài dinh thự lón thường trạm hình hai vị môn thần. Tục này có từ đời nhà Hán (25-220) với mục đích xua đuổi tà thần, phụ trì cho người sống sau cánh cửa. Lúc ban đầu hình tượng môn thần thường tạc trên gỗ cây đào, và treo trên cánh cửa. Sang tới đời nhà Tống (960-1279) người ta vẽ hình môn thần trên giấy hồng điều dán lên của, và tục này con truyền tới ngày nay, trong dịp tết nguyên đán.

Truyền thoại kể rằng vua Thái Tông nhà Đường (618-907) thường thấy qủy sứ hiện hình chạy trong cung, phá giấc ngủ của vua. Các quan trong triều ai nấy đều lo lắng cho long thể. Có hai võ tướng, tên là Tần Quỳnh và Uý Trì Cung, (có nơi chép là Trần Thúc Bảo và Uý Trì Kính Đức), không biết sợ ma qủy, tình nguyện canh giữ trắng đêm. Sau mấy đêm liền ngủ được yên giấc, nhà vua ca ngợi lòng dũng cảm của hai vị tướng.  Thửa biết là không thể nào hai vị vũ tướng đó có thể mãi mải thức trắng đêm như vậy được, nhà vua sai người vẽ hình hai vị tướng, đũ cả giáp dầy gươm dài treo ngoài cửa cung. Ma qủy cũng không tới phá giấc ngủ của nhà vua nữa. Thần dân biết truyện theo gương họa hình hai vị môn thần này để giữ an ninh cho toàn gia.

Đằng khác, theo Sơn Hải Kinh, trên núi Độ Sóc, ngài biển Đông, có một cây đào sống đã cả ngàn năm cành lá xum xuê kết thành  cổng Qủy Môn, thường thường qủy sứ phải đi qua cái cổng đó mới lên tới trần gian gieo rắc tội lỗi. Ngọc Hoàng Thượng đế sai anh em Thần Trà và Úc Điệp canh gác cổng này không cho qủy dữ lọt qua. Có qủy dữ nào cố tình trái mệnh thì Ngọc Hoàng cho phép hai anh em môn thần bắt trói và ném cho cọp trên đỉnh núi ăn thịt. Lại cho tạc hình tưọng hai vị môn thần treo trên cánh cồng qủy môn: ảnh tượng Úc Điệp treo bên trái, ảnh tượng Thần Trà bên phải, để trừ tà ma.

Theo truyền thoại thứ hai, cây đào ngàn năm trên núi Độ Sóc kết trái đào tiên, ai ăn được cũng sống ngàn năm. Ở miệt Đông Bắc núi có tên tướng cưóp độc ác Dã Vương Tử, ttự xưng làm vua và mặc sức bóc lọt dân đen khắp vùng. Một hôm tướng cướp biết truyện đào tiên, sai đàn em đến cướp về cho gã. Nhưng Thần Trà và Ức Điệp dẹp tan bọn côn đồ đó dễ dàng. Dã Vương Tử giận dữ tập họp ba trăm đàn em đương đêm tối trá hình tới vây đánh Thần Trà và Ức Điệp để cướp đào tiên và trả thu cho đồng bọn. Thần Trà và Ức Điệp, thấy xuất hiện bọn qủy sứ mắt biếc tóc đỏ, liền ra tay bắt cả bọn, trói chặt ném cho hổ đói ăn thịt. Chiến thắng của Thần Trà và Úc Điệp vang dội khắp vùng, từ đó người ta tạc  hình hai vị môn thần bằng gỗ đào để xua đuổi tà ma nghịch tặc.

Ngoài hình tượng phúc thần và các môn thần treo trên hai cánh cửa, ngày đầu xuân người Đông Á thường dán hai bên cửa một đôi câu đối, viết mực tầu trên giấy đỏ, thưòng thưòng mội vế có năm hoặc bẩy chữ, đôi khi dài hơn. Nội dung thường là lời cầu mong được bình an, làm ăn phát tài, trong năm tới, nhưng nhất thiết phài theo đúng luật đối vần đối ý khe khắt. Tục treo câu đối này có từ đời Ngũ Đại (907-960), câu đối thưòng khắc trên gỗ đào. Truyền thoại kể rằng Mạnh Sưởng nước Sở, sai quan hàn lâm học sĩ, làm một đôi câu đối đón xuân, nhưng không được vừa ý, ông tự tay sáng tác và tạc một đôi cho thật hài lòng. Từ đó câu đối đón xuân của nhà nào cũng thường do chính chủ nhân nhà ấy sáng tác. Rồi tại Việt Nam, khi bút sắt thay thế bút lông, có mấy cụ đồ già viết thay những chủ nhà muốn treo câu đối đỏ mà không biết viết. Cũng theo truyền thoại, vua Minh Thái Tổ, đêm trừ tịch thường vi hành đọc câu đối đón xuân để biết rõ dân tình.

Ngoài câu đối, người Đông Á còn dùng nhưng bức niên họa dán trưóc của để đón xuân. Từ đới Tống (960-1279) niên họa thường in trên giấy, vẽ những cảnh sinh hoạt ngày đầu năm, hơặc hình ảnh chim muông hoa lá kèm theo nhưng lời chúc tụng, sống lâu giầu bền, con đàn cháu đống …

Trước kia, người ta dùng vào dịp đầu xuân, những cặp tượng đồng nam đồng nữ, mang tên Đại A Phúc tượng trưng hai đứa trẻ một trai một gái kháu khỉnh. tiêu biểu lời chúc tụng may mắn thêm con thêm cháu trong năm mới. Ngày nay tượng đồng nam đồng nữ trở thành một món quà đám cưới cổ điển mừng cô dâu.

Theo truyền thoại, cặp Đại A Phúc này xuất phát từ vùng núi Tích Huệ tỉnh Giang Tô. Trong núi có một cặp sư tử mầu xanh biếc, chuyên vồ trẻ thơ. Dân tình kinh sợ, lập đàn cầu cứu Ngọc Hoàng. Lời kêu cầu thấu tới tai Ngọc Hoàng. Ngưòi sai một cặp đồng nam đồng nữ, mang tên Đại A Phúc, xuống trần trị cặp sư tử không bắng sức mà bằng mưu mẹo. Cặp Đại A Phúc từ khi thắng đôi sư tử trở thành hai vị thần bảo trợ cho người Trung Quốc.

Hoa quả cũng được dùng làm biểu tượng cho lòng ước mong hạnh phúc của người Đông Á. Người ta tin rằng quả bầu nậm, tượng trưng cho trời đất, kiền khôn, chứa đựng tinh khí có khả năng xua đuổi tà ma. Người ta thường treo một trái bầu nậm nhỏ để thay bùa hộ thân, dưới cửa sổ hay cửa ra vào chính, trên đầu giường và trước mặt tài xế lái xe hơi. Theo kinh sách Đạo Giáo, trái bầu nậm, còn gọi là hồ lô, đựng thần dược của Lý Thiết Quài, một trong Bát Tiên Quá Hải.

Chiếc hồ lô đã vào văn học Trung Quốc qua chương 33, truyện thần thoại Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân,  một tác giả thế kỷ XVI. Truyện kể rằng Tôn ngộ Không biết rằng có bọn tiểu yêu rắp tâm dùng hồ lô để hại mình, liền hóa phép thành một chân nhân đạo giáo đi gặp bọn tiểu yêu. Bọn nó khoe có một chiếc hồ lô có sức chứa ngàn người; Tôn Ngô Không cho hay chiếc hồ lô của ông, có sức chứa cả trời đất. Bọn tiểu yêu kinh ngạc xin Tôn Ngô Không cho xem phép lạ của hồ lô của ông và nếu quả vậy thì chúng xin nộp chiếc hồ lô của bọn chúng. Tôn Ngộ Không niệm chú, khiến ánh sáng mặt trời mặt trăng và cả tất cả tinh tú trên trời đều tắt ngẩm trong một giờ, khiến bọn tiểu yêu nghĩ là đã bị Tôn Ngộ Không hóa phép bỏ vào hồ lô. Lũ chúng năn nỉ xin nộp hồ lô của bọn chúng để được tha.

Ngoài quả bầu nậm, người Trung Quốc còn dùng trái phật thủ (Citrus medica) để tiêu biểu cho hạnh phúc, bợi lẽ chữ Phật 佛 đồng âm vói chữ phúc 福, đọc là . Người ta thường bày trái phật thủ cạnh trái đào và trái lựu để tương trưng ba điều ược vọng đầu năm: trái đào tiêu biểu cho tuổi thọ, trái lựu tiêu biểu cho sinh dục, và trái phật thủ là hình ảnh bàn tay đang bắt ấn quyết của nhà Phật. Ba trái để cạnh nhau dường như lời cầu phép Phật cho người già tăng tuổi thọ cho ngưòi trẻ có thêm con. Hình ảnh ba trái này tưong tự như hình ảnh mâm quả của người Việt Nam gồm một trái mãng cầu, một trái đu đủ và một trái soài, biểu thị ý nguyện : cầu vừa đủ s(o)ài.

Hình ảnh thiên nhiên biểu thị ước mong hạnh phúc là hình ảnh những áng mây. Mây, viết theo tiếng Trung Quốc: 雲, đọc là yún đồng âm với chữ 運, đọc là yùn. Đọc theo âm Việt Nam, theo thứ tự là vân nghĩa là mây vận nghĩa là dịp may. Chữ vân trong từ ngữ tường vân biểu thị đám mây mang may mắn tới cho người chờ đợi hạnh phúc. Đám mây này còn gọi là đám mây năm mầu: ngũ sắc vân, tiêu biểu cho ngũ phúc, tức năm niềm hạnh phúc. Hình ảnh đám mây thường gặp trong những nền trang trí trên tường, hoặc trên nền lụa may quần áo. Hình dạng đám mây gợi nên hình ảnh cây nấm linh chi tiêu biểu cho tuổi thọ bất tử. Mây cũng là nơi thần tiên ngao du như trong từ ngữ đằng vân.

Hạnh phúc mong đợi thường còn được tiêu biểu bởi một linh vật, tỷ như hình con rồng. Rồng đứng đầu tứ linh : long, ly, quy và phượng. Thời thượng cổ người ta cầu Long Vương để có mưa đủ nước trồng trọt. Rồng là linh vật lúc ẩn lúc hiện, lúc ở đáy nước lúc ở mây cao, lúc phun lửa lúc nhả mây. Giới cổ tự học cho biết là chữ long 龍 có từ đời nhà Thương, trước công nguyên gần ba ngàn năm, khắc trên những mu rùa dùng vào việc bói toán. Rồi trải qua nhiều triều đại, rồng là biểu tượng của đế quyền. Hình ảnh con rồng dành riêng cho hoàng đế qua nhưng danh từ như long sàng là giường vua, ngôi rồng là ngai vua, long bào là áo vua, long thể là mình vua… Rồng hiện ra là điềm báo có qúy nhân giáng thế: tương truyền à có rồng hiện ra trước khi Khổng Khâu ra đời. Sử Việt Nam cho biết có rồng hiện ra khi vua nhà Lý thiên đô nên đặt tên kinh đô mới là Thăng Long. Trung Quốc có tục múa đầu rồng, gọi là long vũ, trong các kỳ lễ hội cầu mưa khi hạn hán, thường tổ chức vào dịp đầu năm dể cầu phước lộc cùng xua đuổi tà ma.

Từ đời Tam Quốc (220-265) ngoài múa rồng còn có múa sư tử trong các kỳ hội hè của dân gian. Tục này lan sang Việt Nam: trong dịp lễ Trung Thu vào tuần trăng tròn tháng tám âm lịch cũng thường có múa rồng và múa sư tử.  Theo phân tích của Trần Văn Khê trong một buổi thuyết trình, truyện múa rồng tại Trung Quốc và Việt Nam, tuy nhìn bề ngoài chẳng mấy khác nhau, nhưng ý nghĩa khác hẳn nhau. Tại Trung Quốc thì đó là một cuộc đấu sức giữa ngưòi và rồng hay sư tử. Tại Việt Nam thì đó là hoạt cảnh rồng mẹ âu yếm rồng con.

Sau linh vật, người Đông Á còn dùng bình để cám hoa trang trí tiêu biểu cho ưóc mong được hạnh phúc nhân dịp đầu năm. Người Việt Nam thường dùng một chiếc bình lớm cắm một cành hoa đào hay một cành hoa mai vàng. Chữ bình 瓶 (là cái lọ) đồng âm với chữ 平 trong từ ngữ bình an. Tặng nhau một bình hoa là chúc nhau đưọc bình an vô sự. Mang bình hoa tặng ngưòi ốm là chúc người ốm mau bình phục. Trong ba ngày tết, người Trung Quốc nếu lỡ tay đánh vỡ bát đĩa, thường nói câu sui sui ping an, 歲 歲 平 安, nghĩa là bình an năm này năm khác. Tục này dường trái với tục người Việt Nam, đầu năm đánh vỡ bát đĩa coi là điềm sấu sợ rông cả năm.

Trở lại truyện dùng hình tượng con giơi để tiêu biểu chữ phúc, người ta còn dùng hình hai con giơi, mầu đỏ tạo nên hình tương song phúc 雙  福. Hình con giơi ngậm đồng tiền cũng là một cách chơi chữ của người Trung Quốc.

Hình tượng này gợi ý thành bốn chữ : phúc tại nhãn tiền: 福 在  眼  前, nghĩa là phúc thấy trước mắt. Con giơi còn là biểu tượng chữ thọ. Sách thuốc Bản Thảo Cương  Mục, 本  草   綱  目, xuất hiện từ thế` kỷ thứ XVI, cho biết là giơi là giống vật có đời sống rất dài, máu giơi, mật giơi và cả cánh giơi đều có dược tính chữa bệnh mắt già và kéo dài tuổi thọ. Hình tương năm con giơi  đậu quanh chữ thọ quen gọi là ngũ phúc phủng thọ 五  福  捧  壽 là hình tượng rất thông dụng để chúc phúc thọ.

Hình tượng cầu phúc quen biết với mọi ngưòi quen đi ăn tiệm Trung Quốc là chiếc, 籤 語  餅, thiêm ngữ bỉnh, quen gọi là fortune cookie thường dùng làm đồ tráng miệng. Trong lòng bánh có một thẻ giấy đoán thời vận của người ăn bánh. Tục này không phải do người tại Hoa Lục phát minh, mà do một người Trung Quốc mở tiệm ăn tại San Francisco, California tìm ra vào khoảng năm 1920.

祿 LỘC

 

 

Đứng sau chữ phúc là chữ lộc, nghĩa là những gì của trời ban cho con người như khoa bảng, địa vị xã hội, danh giá, tăng thưởng, lương bổng. Lộc càng dồi dào, cuộc sống vật chất càng hạnh phúc dễ dàng. Lộc là thành công trên hoạn lộ, nên lộc khác với tài, chỉ riêng  truyện  thịnh đạt về tiền bạc trên thương trường. Lộc 祿 đồng âm với 鹿 là con hươu, nên người ta thường dủng con hươu làm biểu tượng cho chữ lộc, như trong từ ngữ bách lộc 百 祿. Truyền thuyết cho rằng hươu có thể sống lâu trăm tuổi, nên nhiều khi con hươu còn là hình tượng của chữ thọ. Thọ thần không cỡi ngựa cỡi bò mà cỡi hươu trong nhiều bức tranh dân gian, vì hươu có thể tìm ra được nấm linh con hươu, trên chi dùng làm thuốc trường sinh bất tử. Hình tượng bộ tam đa gôm ba vị phúc thần phúc,  lộc,  thọ biến thể thành hình tượng lưng có chữ phúc, trong bụng có chữ thọ. Tại điểm này, con hươu đứng cùng hàng với con hạc để biểu thị người cao tuổi.

Cũng như liên quan tới chữ phúc có phúc thần, liên quan tới chữ lộc dưới trần  có lộc thần, trên trời có lộc tinh như trong thành ngữ lộc tinh cao chiếu 祿  星  高  照, biểu thị lòng người Trung Quốc ngưỡng mộ tinh tú này. Chữ lộc, đọc theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ lục chỉ số 6, thế nên không lạ là nhiều người coi số sáu là một con số mang lại nhiều may mắn trên đường sự nghiệp. Hình ảnh chữ lộc trong dân gian là cảnh tiến sỉ vinh quy, có cờ có bảng có ngựa anh đi trước võng nàng theo sau. Trên sân khấu, chữ lộc trải dài trên ba cảnh. Cảnh thứ nhất thường là cảnh giáo tuồng, nghẹ nhân đeo mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, ra sân khấu đi liền ba vòng với nụ cười trên môi, nhưng không nói một lời. Lần thứ hai hiện ra trên sân khấu vời một đứa bé kháu khỉnh trên tay, và cũng đảo ba vòng sân khấu. Lần sau cùng, người đó mang theo một tấm vải đề bốn chữ 加  官  進  祿 gia quan tiến lộc nghĩa là thăng quan tiến lộc.

Theo truyền thuyết, hàng năm trên sông Hoàng Hà, hàng đàn cá chép bơi ngược dòng sông tới Vũ Môn, con nào nhẩy qua đươc Vũ Môn thì hoá rồng. Từ đời nhà Tống (960-1279) ngôn ngữ Trung Quốc có câu : 鯉  魚  跳  龍  門, lý ngư khiêu long môn, nghĩa là cá chép vượt cửa rồng, dùng dể chỉ nhưng kẻ may mắn đả đỗ các kỳ thi hương thi hội hay thi đình để ra làm quan với triều đình. Nhưng kỳ thi hương đề mở ra cho tất cả mọi người. Được bổ làm quan là bắt đầu một cuộc sống giầu sang, không nhưng riêng cho thân mình mà có khi cả họ được nhờ. hai  chữ 鯉 (lý) và 祿 (lộc) trong tiếng Trung Quốc là hai tiếng đồng âm, thế nên hình ảnh con cá chép là hình ảnh sự thi đỗ thành đạt. Tại Việt Nam, vào dịp tết trung thu, cha mẹ thưòng mua cho con trai một chiếc đèn cá chép, phải chăng cũng là hy vọng đứa con sẽ đỗ đặt thành tài, ra làm quan.

Ước mong của những thư sinh xuất sắc không phải chỉ là vưọt qua được vũ môn, mà phải giật được chức giải nguyên 解  元, tức chức thủ khoa, hay đỗ đầu khoa thi. Có vậy mới mong chiếm được ấn phong hầu. Chữ giải 解  này đồng âm với chữ 蟹 là con cua nên hình tượng con cua được dùng làm lời chúc tụng nhưng thí sinh lều trõng đi thi.

Vượt qua được Vũ Môn, con người lại uớc mong hanh thông trên hoạn lộ, và hình tượng con người may mắn này là hình ảnh con khỉ, chữ Trung Quốc là 猴 đoc là hóu và đọc theo âm Việt Nam  là hầu. Trong cả hai ngôn ngữ chữ này đồng âm với chữ 候 , nghỉa la một chức quan lớn trong triều. Kết hợp hình tượng con khỉ với con ngựa, người Trung Quốc có thành ngữ 馬 上  封  候, mã thượng phong hầu, dùng biểu thị cảnh thang quan tiến chức lẹ làng trên hoạn lộ. Hình ảnh tiêu biểu người làm quan ước mong lên tới mức nhất phẩm triều đình là hình ảnh một con khỉ đang đu mình trên ngọn cây bắt lấy một chiếc ấn và gọi là 封  候  掛  印, phong hầu quải ấn.

Con gà trống kết hợp với bông hoa mào gà thường được dùng thay lời chúc tụng cái may mắn được thăng quan tiến chức mau lẹ. Bởi lẽ mào gà tiếng trung quốc là chữ quan 官, chữ này còn có nghĩa là ông quan hay chiếc mũ, thế nên kết hợp con gà trống với bông hoa mào gà biểu thị bốn chữ 官  上  加  官, quan thượng gia quan, ngụ ý thăng quan tiến chức liên tiếp mau mắn. Con gà trống còn tiêu biểu cho một linh vật có khả năng xua đuổi tà ma.

Có nhiều loại hoa được chọn làm hình tượng cho chữ lộc. Loại thông dụng nhất là hoa mẫu đơn. Hoa này được mệnh danh là hoa phú qúy. Mẫu đơn vàng hay tím là hai loại mẫu đơn rất được ưa chuộng. Mẫu đơn còn tiêu biểu cho mùa xuân và tượng trưng sắc đẹp giai nhân. Bộ ba mẫu đơn, ngọc lan và hải đường kết thành 玉  堂  富  貴, ngọc đường phú qúy, nghĩa là cảnh giầu sang nơi điện ngọc. Kết hợp  hoa sen, hoa cúc, hoa mận với mẫu đơn thành 四  季  平  安,  tứ qúy bình an, nghĩa là bình an suốt bốn mùa.

壽 THỌ

 

 

Thọ là sống được ngoài 70 tuổi. Thời Đỗ Phủ it người sống được đến tuổi đó. Ngày nay tuổi thọ trung bình ở cỡ 75, nên chữ thọ là một chữ trong ngũ phúc tương đối có nhiều người đạt được nhất.

Nhiều người tin rằng đặt đưọc chữ tho chỉ vì thường ăn mì, hay ăn trái đào.  Ước mong đạt được tuổi thọ biểu lộ qua những bức hoành phi có nhưng câu như 壽  比  南  山, thọ bỉ nam sơn, nghĩa là thọ tựa như núi Nam, hay câu 萬  壽  無  疆, vạn thọ vô cương, thọ vạn năm chẳng cùng, hoặc 龜  齡  鶴  壽, quy linh hạc thọ, nghĩa là thọ như rùa hạc. Những lời chúc tụng như  萬 壽, vạn thọ có trong ngôn ngữ Trung Quốc từ đòi nhà Thương nhà Chu, cả mười thế kỷ trước công nguyên, mà giới khảo cổ thường thấy khắc trên những đỉnh vạc đời nhà Chu.  Tín đồ đạo Khổng tin rằng kẻ ở hiền thì sống lâu,  kẻ ở ác thì chết sớm: 仁  者  壽, 惡  者  夭. Hình tương tương trưng chữ thọ là cây thông, cây đào, con hạc con rùa. Các bậc thần tiên đều bất tử, tỷ như Tây Vương Thánh Mẫu.

Hình tượng lão thần là một cụ già có bộ mặt tươi cười, một tay chống gậy đầu long một tay cầm trái đào tiên bất tử.  Tương truyền, lão thần  là một trong Nhị Thập Bát Tú, nguyên là sao Giải Kháng  (Canopus), hay còn gọi là Nam Cực Lão Nhân Tinh, trong  Đông Phương Hạng Long Thất Tú (SudArgo) Ngưòi xưa tin rằng tinh tú ảnh hường tới tuổi thọ con người, và Nam Cực Lão Nhân là vì tinh tú quyết định số mạng con người. Nhà viết sử Tư Mã Thiên đời Hán, tác giả bộ Sử Ký Thiên Cung Thư, cho biết là người xưa tin ràng: 老  人  星 見, 治  安, 不  見  兵  起, lão nhân tinh kiến, trị an; bất kiến binh khởi, nghĩa là sao Lão Nhân hiện ra, thì trị an, không hiện ra là điểm khởi binh biến.

Có nhiều tryện truyền kỳ về thọ thần. Truyện thứ nhất là Bạch Xà Truyện. Tương truyền xuất xứ từ đời nhà Minh, rồi sau cải biến thành một vở tuồng. Bạch Xà hóa thân thành một thiếu nữ sắc đẹp tuyệt vời. Nàng yêu một chàng trai tên là Hứa Tiên, và kết duyên cùng chàng. Một hôm nàng uống lầm một chén rưọu thuốc khiến nàng tái hiện nguyên hình thành một con rắn trắng. Hứa Tiên quá sợ mà chết. Bạch xà về núi Côn Lôn để tìm linh chi tiên thảo có khả năng cứu chồng nàng sống lại được. Chẳng may Bạch Xà không thắng nổi hai tráng sĩ có nhiệm vụ canh gác khóm linh chi thảo. Trước hoàn cảnh đáng thương của nàng, Thọ Thần mủi lòng ban cho nàng linh chi thảo để về kịp cứu chồng.

Truyện thứ hai là một truyện có từ thời Lục Triều. Sách Sưu Thần Ký kể rằng có một thiếu niên tên là  Nhan Siêu, mười chín tuổi, được một lão ông cho hay là sớm mai thì chàng tận số. Nhan Siêu lậy van xin lão ông cứu mạng, nhưng lão ông cho biết là lão không thể nào thay đổi số mệnh được, và lão dục chàng trai mau về giã biệt cha mẹ. Nghe tin, cha mẹ chàng trai gấp tìm gặp lão ông và cùng khấu đầu xin lão ông cứu mạng cho con. Lão ông cho biết là hai người phải về sắm sửa rượu thịt để sáng mai Nhan Siêu bê ra dâng cho hai ông lão chơi cờ ở dưới bụi dâu bên đầu nhà. Ông lão còn dặn kỹ là Nhan Siêu không được mở miệng nói một tiếng. Sáng hôm sau, Nhan Siêu thấy hai ông lão bầy cuộc cờ bên bụi dâu. Đúng y như lời dặn chàng bê mâm rượu thịt ra để bên hai bàn cờ. Sau vài ván cờ, hai ông lão ngẩng lên thấy Nhan Siêu, và cũng nhận ra là đã dùng hết mâm rượu thịt. Hai ông lão bàn nhau thay đổi một vài chữ trong tập mệnh sách để thưởng công cho chàng trai. Ông lão ngồi bên mé Bắc nói rằng việc đó không phải là dễ. Ông lão ngồi bên mé Nam, dở cuốn mệnh sách ra xem kỷ lưỡng rổi nói là việc đó có thể làm được, đoạn lấy bút ra sửa số mười chín thành chín mươi mốt. Người chép truyện bàn rằng ông lão ngồi bên mé Bắc là Bắc Đẩu coi việc sống chết và ông lão ngồi bên mé Nam là Nam Tào chính là thọ thần coi việc tăng giảm tuổi thọ cho con người.

Người Trung Quốc thường dùng hình tượng nhiều loại cây để tiêu biểu cho tuổi thọ. Cây thông bốn mùa xanh lá, ngay cả tại những vùng núi cao, trong ngày đông tháng giá lạnh lẽo, thế nên cây thông là tiêu biểu quen thuộc nhất tuổi thọ. Trong ngôn ngữ Trung Quốc có nhưng thành ngữ quen dùng như 不  老  松, bất lão tùng, nghĩa là cây thông không già, hoặc 松  匊  延  年, tùng cúc diên niên, nghĩa là tùng cúc tăng thọ. Lá thông mọc thành từng cặp, tương trưng cho một cuộc hôn phối êm đẹp. Cây thông còn có tác đông xua đuổi tà ma tới tác quái với người chết trong mộ, nên người ta thường trồng thông tại các tha ma mộ địa.

Người Trung Quốc có truyện truyền kỳ về cây thông như sau. Xưa có người tên Triệu Cù, đau ốm đã nhiều năm. Thấy chàng đã gần ngày tận số, gia đình mang chàng về nhà trong núi chờ chết. Ít lâu sau, có một tiên ông đi qua, thương hại chàng cho một it thuốc bảo phải uống liền một trăm ngày. Sau trăm ngày Triệu Cù khỏi bệnh, da dẻ tươi tắn lại như ngày chưa bệnh. Ngày tiên ông trở lại, Triệu Cù quỳ dưới chân tiên ông để cám ơn cưu mạng, và xin hỏi tiên ông đã dùng thần dược gì để cứu chàng. Tiên ông cho biết vị thuốc chính là dầu thông. Triệu Cù về lại nhà sống đến trăm tuổi tăng không rụng, tóc không bạc. Ngày nay người ta công nhân rằng dầu thông có tác dụng kéo dài tuổi thọ.

Đi đôi với cây thông là cây bách. Trong tiếng việt bách còn có nghĩa là một trăm; trong tiếng Trung Quốc 柏 (cây bách) và 百(một trăm) cùng đọc là bai, tương trưng cho chữ thọ. Bách đi  đôi với tùng trong câu chúc tụng 柏 松 長 青, bách tùng trường thanh, nghĩa là bách tùng trẻ mãi. Kết hợp hình ảnh cây thị vói cây bách thành lời chúc mừng của người Trung Quốc 百 事  如  意, bách sự như ý, nghĩa là trăm sự như ý, vì chữ 柿 và chữ sụ 事, đồng âm trong tiếng Trung Quốc. Cũng như cây thông, cây bách cũng thường được trồng tại nghĩa trang để xua đuôi ma qủy bảo vệ nguời chết năm dưới mồ.

Đứng sau cây thông để tượng trưng chữ thọ là cây trúc, bởi lá trúc cũng giống lá thông xanh tươi suốt năm. Trúc còn tương trưng cho lòng can trường dẻo dai, người xưa mô tả trúc bằng câu: 不  剛  不  柔,  非  草  非  木, bất cương bất nhu, phi thảo phi mộc, nghỉa là không cứng không mền, chẳng là cỏ chẳng là cây. Người ta còn đặt cây mai đứng sau tùng trúc là hai loại cây xanh tươi cả năm, vì cùng tùng trúc xanh tốt, mai là thứ hoa độc nhất nở  vào mùa đông, thế nên người Trung Quốc gọi chung ba cây này là 歲  寒  三  友 tuế hàn tam hữu, ba người bạn thân trong ngày đông tháng giá. Vì đốt trúc thẳng và rỗng lòng, dịch bốn chữ 節  直  心  虛 tiết trực tâm hư, nên từng là biểu hiệu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Đốt một đốt trúc thường gây một tiếng nổ tựa như tiếng pháo. Ngày xưa tiếng nổ dùng để xua đuổi tà ma, thế nên người Trung Quốc có câu 竹報  平  安, trúc báo bình an; và vì chữ trúc 竹 đồng âm với chữ chúc 祝 trong tiếng Trung Quốc, nên câu trúc báo bình an trở thành một lời chúc tụng bình an.

Tiếp tới là cây mai, vì mai là loài hoa nở vào mùa đông, nên hoa mai trắng được chọn làm biểu tương cho chữ thọ, đồng thời còn tiêu biểu cho trinh tiết phụ nữ đài trang. Kết hợp hoa mai với cành trúc thành lời chúc song phúc: 竹  梅  雙  喜, trúc mai song hỷ, thường dùng trong những dịp cưới hỏi.

Sau mai là cúc, một loài hoa nở vào cuối thu và đầu đông, và cũng là một biểu tượng của chữ thọ. Ngoai ra, trong tiếng Trung Quốc, chữ cúc 菊 (hoa cúc) và chữ  cửu 久 (mãi mãi) đều đọc là jiu, thế nên hoa cúc cũng thành biểu tượng cho chữ thọ.

Về mùa xuân ở Đông Á có hoa thủy tiên, kết hợp một khóm thủy tiên với một tảng đá và mấy cành trúc thành cảnh mô tả bởi bốn chữ 群  仙  祝  壽, quần tiên chúc thọ, bởi như trên đã nói, chữ chúc 祝 này đông âm với chữ trúc 竹 và tảng đá tiêu biểu cho tuổi thọ. Không những trái đào, mà hoa đào cũng là một biểu tượng của chữ thọ. Thế nên không lạ gì ở vùng bắc Việt Nam, ngày tết người ta thường trưng cành đào. Trong thơ hoa đào tiêu biểu cho sắc đẹp các thiếu nữ còn trẻ.

Trái đào tiên là một trong những hình ảnh chủ chốt trong truyện thần thoại Tây Du Ký. Chương 5 truyện này kể rằng cây đào tiên ba ngàn năm mới ra hoa, ba ngàn năm sau mới kết trái, ăn được một miếng đào này sẽ sống đưọc sáu trăm năm.Sau khi đại náo thiên đình, Tôn Ngộ Không được Ngọc Hoàng Thượng Đế phong làm Tề Thiên Đại Thánh, lại cho cai quản vườn đào. Từ đó Tề Thiên lén ăn gần hết vườn đào. Tây Vương Mẫu, định mở hội, mời chư quần tiên, sai bẩy Tiên Nữ tới vườn đào hái đào chín mang về làm tiệc bàn đào tại điện Bửu Các. Bẩy Tiên Nữ gặp Tề Thiên cho Tề Thiên biết là Tề Thiên không được mời tới dự tiệc. Tức giận Tề Thiên đằng vân tới điện Bửu Các, ăn một hơi tàn tiệc, uống rượu quý đến say mèm. rồi chợt tỉnh thấy mình lén ăn gần hết vườn đào tiên, nay lại phá tàn tiệc bàn đào, bèn sợ hãi quay về tư dinh, nhưng quá say lạc vào cung Đâu Xuất, dinh của Thái Thượng Hoàng Lão Quân. Vào dinh Thượng Hoàng Lão Quân, Tề Thiên thấy năm chiếc bầu đựng thuốc trường sinh. Tề  Thiên không e ngại nuốt trọn cả năm bầu. Thế là Tôn Ngộ Không vừa ăn đào tiên, vừa uống được linh  đơn, hai thức cực qúy để trường sinh bất tử.

Theo truyền thoại, Tây Vương Mẫu là một nữ thần linh của Đạo Giáo, không những cai quản vườn đào tiên lại có trong tay  môn thuốc trưòng sinh. Nhiều bức tranh dân gian tượng trưng Tây Vương Mẫu như một thần nhân : thời thái cổ Tây Vương Mẫu có nửa người như người thường, có hàm răng cọp, có mái tóc dựng đứng, nửa ngưởi dưới mang hình con báo; sau dần dần biến hóa thành một người nữ. Có thoại nó Tây Vương Mẫu là vợ Ngọc Hoàng Đại Đế, tức là vợ vua trên trời. Một thoại khác kể rằng, ngoài hai ngàn năm trước, Tây Vương Mẫu dáng xuống trần, mang tặng vua Vũ Đế nhà Hán, bốn trái đào tiên, ai ăn được một trái sống được sáu trăm năm. Ăn hết đào vua Hán giữ hột, mong trồng với hy vọng gây được đào tiên nơi hạ giới. Tây Vương Mẫu biết truyện tâu lên vua rằng, đất đai hạ giới không đủ mầu mỡ để nuôi dưỡng cây đào tiên, phải qua sáu ngàn năm mới có quả. Truyện ăn đào tiên từ đó tới nay chỉ là giấc mộng trường sinh bất tử của con người.

Đứng sau TâyVương Mẫu, có nữ thọ thần. Trong truyền thuyết, nũ thọ thần tên là Ma Cô, trên nhiều tranh dân gian, nữ thọ thần thường cỡi hạc, hay cỡi hươu, trong tay thường có trái đào, hoặc trái phật thủ hay bình rượu. Dung nhan  thọ thần thường là một thiếu nữ trẻ tuổi, chừng mười tám đôi mươi, nhưng thật ra Ma Cô là một vị nữ thần không tuổi tác. Nữ thọ thần được ai quản biển Đông, kể từ ba lần dâu biển, kỳ nọ cách kỳ kia cả triệu năm.

Theo sách thần thoại Tây Du Ký, Ma Cô cũng là khách mời của Tây Vương Mẫu. tới dự tiệc bàn đào, và nhân dịp này Ma Cô dâng tăng Tây Vương Mẫu rượu thần cất bằng linh chi. Tích này tới triều nhà Thanh (1661-1911) cải biến thành tuồng 痲  姑  獻  壽  酒 , Ma Cô hiến thọ tửu, thường trình bày nhân dịp chúc thọ trung cung vua.

Theo sách Thần Tiên Truyện, từ đời nhà Tấn, thọ thần Ma Cô là một thiếu phụ nhan sắc tuyệt trần, có nhiều phép lạ, như có thể đi trên mặt nưóc, biến gạo thành linh đan. Anh ruột thọ thần tên là Vương Phương Bình, làm quan tại Đông Hải, là một nhà bói toán nổi danh, suốt đời nghiên cứu dịch số, sau chết thành tiên bay về núi.

Trong sách đời nhà Minh (1368-1644),  Liệt Tiên Toàn Truyện, cha của Ma Cô vốn là tướng Ma Thu hống hách với thuộc hạ thời Lục Quốc (304-439). Để xây cất doanh trại, ông bắt một toán thợ làm suốt đêm, cho tới khi gà gáy sáng mới được nghỉ. Động từ tâm, thương đám thợ vất vả, Ma Cô có biệt tài giả tiếng gà gáy. Mỗi khi nàng gáy, gà trong khắp xóm gáy theo, toán thợ được nghỉ sóm. Truyện này đến tai Ma Thu, ông tức giận và cho người đi lùng bắt con gái, nhưng nàng trốn vào núi và trỏ thành nữ thọ thần.

Sau nữ thọ thần, đến truyện Hằng Nga, nữ thần ngự trị trên cung trăng, cũng là một vị nữ thần trưòng sinh bất tử. Tương truyền Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, một xạ thủ có tài bắn cung. Thủa đó có chín con quạ biến thành chín mặt trời nung nấu trần gian. Hậu Nghệ trổ tài bắn cung bắn rơi cả chín mặt trời. Tây Vương Mẫu, thường công cứu nạn cho dân ban cho chàng một viên linh đan bất tử, và dậy rằng Hậu Nghệ phải nhịn đói một năm rồi mới uống thuốc thì mới linh nghiệm. Hậu Nghệ mang thuốc về cất kỹ trong nhà. Nhân lúc Hậu Nghệ vắng nhà, Hằng Nga lấy trộm thuốc, nuốt trọn,. Người nàng trở thành vô cùng nhẹ và bay xuyên mây lên mặt trăng. Hậu Nghệ cố tình bay theo mà không nổi. Lên tới mặt trăng, Hàng Nga bị phạt  biến thành con Thiềm Thừ hay con cóc  và viên thuốc bất tủ thành Ngọc Thỏ, và từ đó Hằng Nga vĩnh viễn sống đơn côi trên Cung Quảng.

Sau đó, trong dân gian lại có truyện về Hằng Nga như sau. Trải qua không biết bao nhiêu ngàn vạn năm, Hàng Nga lấy lại được nhan sắc diễm lệ ngày trước, và hàng năm, vào ngày rầm tháng tám âm lịch, người trần thế lại thấy nàng hiện về nhân dịp lễ Trung Thu.

Ngoài những nhân vật thần thoai như Tây Vương Mẫu như Hằng Nga có biệt tài bất tử, người trần thế đạt nổi được tới cỡ bất tử này có Bát Tiên, tức tám vị tiên đạo giáo. Tám vị tiên này là : Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Thiết Quầy Lý, Tào Quốc Cậu, Lữ Đồng Tân, Hà Tiên cô, và Lam Thái Hoà. Tất cả đều sinh ra đời như mọi người, nhưng vì dầy công tu luyện, nhờ đạo đức can trương hỷ xả mà đạt đưọc tới cõi tiên.

Tám người không sinh ra cùng thời. Tiểu truyện từng người lưu truyền trong dân dan trải dài trên sáu trăm năm, từ đời Đường đến đời Tống. Nhưng từ đời nhà Nguyên dân gian bắt đầu thờ tám vị tiên này chung một nhóm tại các quán đạo.

Truyện truyền kỳ phổ thông nhất về tám vị tiên này là bộ Bát Tiên Quá Hải. Tây Vương Mẫu vời tám vị tiên này về dự tiệc tại Dao Trì. Trong bữa tiếc cả tám vị uống rượu tiên tới say mèm. Tiệc tan, từ giã Tây Vương Mẫu, cả tám người ai dùng bửu bối của người nấy, vượt biển đông về hạ giới. Lý Thiết Quài, dùng một cây gậy sắt, Trương Quả Lảo cỡi con ngựa giấy, Lữ Đồng Tân dùng một ống sáo, Hàn Tương Tủ ngồi trong một rỏ hoa, Lam Thái Hoà và Tào Quốc Câu ngồi chung một tấm bàn ngọc, Hà Tiên cô dùng một chiếc dù, Hán Trung Li dùng một chiếc quạt lông. Long Vương ở biển Đông có hai con là  Ma Yết và Long Độc, theo rõi chuyến vượt biển đông hi hữu này, bèn lập mưu bắt đưọc Lam Thái Hoà cướp tấm ngọc bàn. Bẩy vị tiên tức khác đuổi theo và lân phiên giao chiến anh em Ma Yết và Long Độc. Kết cục giết được Ma yết và đánh trọng thương Long Du. Để trả thù, Long Vương cầu cứu Long Vương khắp bốn bể, nhưng cũng không thắng nổi bát tiên. Cuộc chiến kéo dài, Đức Như Lai và Phật Bà Quan Âm phải đứng ra dàn xếp, cuộc chinh chiến mới chấm dức. Bát tiên được người đời kính trọng vì không nhưng cả tám vị đều có tài cao tuyệt thế mà còn biết đồng tâm hiệp sức lo cứu nạn cho nhau.

Truyện truyền kỳ về chữ thọ thường nói tới nấm linh chi, một loại dược thảo giúp con ngường trở thành bất tử. Đây là một loại nấm, có tên khoa học là Polyporus lucidus rất được đông y coi trọng vì có phẩm chất dinh dương cao. Nấm này tiêu biểu cho thuốc trường sinh cũng như đặc tính hồi sinh cấp cứu. Theo truyền thuyết Dạo Giáo, nấm linh chi mọc tại đảo Bồng Lai ngoài biển Đông, nơi thần tiên ccu ngụ, và thuốc trường sinh nhiều như nước tù nhưng giếng ngọc ohun lên. Trên các tranh dân gian, nấn linh chi thương đi kèm với hình con hươu con hạc, nhưng hình tượng thông dụng tiêu biểu chữ thọ, để tạo thành những hình tưọng tiêu biểu cho song thọ thường thấy dùng trang trí trên tường các quán đạo. Trên nhiều bức khác, nấm linh chi thưòng kết hợp với hình cá trê, nguyên tiếng Trung Quốc đọc là niên, toàn bộ bức tranh đọc thành câu chúc tụng niên niên như ý.

Sau nấm linh chi, củ nhân sâm cũng được dùng tiêu biểu cho chữ thọ. Củ nhân sâm có hình thái tựa như hình người và có giá tri dược liêu rất cao, dùng làm thuốc chữa nhiều thứ bệnh và cũng dùng làm thuốc bổ.

Mỳ sợi dài cũng được người Trung Quốc lấy làm tiêu biểu cho chữ thọ. Có một hãng làm mỳ bán chạy nhất Trung Quốc lấy chữ thọ đặt tên cho mỳ họ sản xuất. Truyện kể rằng, dưới triều vua Đường Huyền Tôn, trong buổi khó khăn hoàng hậu phải đổi một tấm khăn lấy một bát mỳ dâng hoàng thương nhân dip sinh nhật. Cho tới ngày nay, người ta ăn mỳ vẫn kiêng không cắt ngang nhưng sợi mỳ vì tin rằng cắt ngang sợi mỳ là làm giảm đời sống.

Người Trung Quốc cũng như người Việt, không ăn mừng ngay sau khi có con chào đời, mà chờ cho con đầy tháng. Nhân dịp này người ta thường tặng cho đứa nhỏ hoặc một chiếc dây đeo cổ, gọi là trường mệnh tỏa, hoặc một chiếc khánh bằng kim khí khắc bốn chữ 長  生  百  歲, trường sinh bách tuế, nghĩa là sống lâu trăm năm, đeo bằng một sợi giây năm mầu. Người ta tin rằng sợi giây năm mầu này có khả năng xua đuồi tà ma quấy phá đứa nhỏ. Ở Việt Nam, có nhiều gia đình cho đứa nhỏ đeo vào chân một sợi dây chuyền, bằng bạc hoặc bằng vàng, tùy gia cảnh, cũng có cùng ý nghỉa với sợi dây trường mệnh tỏa.

Ngày nay, ngay tại Bắc Kinh, tục tặng cho trẻ sơ sinh một chiếc trưòng mệnh tỏa bằng đồng, nhân ngày đầu tháng vẫn còn thịnh hành.

Có hai linh vật tiêu biểu chữ thọ.  Một là con hạc. Hạc là một giống chim chân dài cổ dài, hiện coi là một loài chim đang dần dần tuyệt giống. Tù lâu rồi hạc tiêu biểu cho chũ thọ. Trong thơ Đương có bài Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu, kể lại tích người tiên bất tử cỡi hạc về trời. Hạc được coi là một loài chim bất tử. Kệt hợp với cây thông thành bức tranh mang tên 鶴  壽  松  齡 , hạc thọ tùng linh, biểu thị ước vọng được sống dai như hạc như tùng. Hình tượng hạc kết hợp với rùa, thành câu 龜  鶴  齊  齡, quy hạc tề linh cùng ý nghỉa sống lâu như hạc như quy. Ngoài ra hình ảnh một con hạc, đứng trên một tảng đá, trên mặt sông ngưóc nhìn vê phía mặt trời tiêu biểu cho ước vọng của ngưòi làm quan mong đạt đưọc tới mức nhất phẩm triều đình, bởi hạc đươc coi là nhất phẩm điểu, loài chim đứng đầu hàng chim, và mặt sông tiêu biểu cho dòng nước thủy triều bởi chữ 潮 trong chữ thủy triều và chữ 朝 trong từ ngữ triều đình đọc như nhau trong tiếng Trung Quốc và trong tiếng Việt Nam.

Trong nhiều truyện truyền kỳ, người thường biến thành hạc bay về cõi tiên. Trong tiểu thuyết Sưu Thần Ký, thời nhà Tấn, kể lại truyện người Đinh Linh Uy, ẩn cư tại núi Linh Hư, luyện linh đan, đắc đạo thành tiên, một ngàn năm sau biến thành con hạc trắng, bay về quê xưa, đậu trên cửa Đông, ngâm bài thơ dưới đây:

有  鳥  有  鳥  丁  令  葳 hữu điểu hữu điểu Đinh Linh Uy

去  家  千 年 今  始  回 khứ gia thiên niên kim thuỷ hồi

成  郭 如  故  人  民  非 thành quách như cổ nhân dân phi

何  不  學  仙  去, 空  伴  家  累  累 hà bất học tiên khứ,  không bạn gia lụy lụy.

Yên Huỳnh

Chưa có phản hồi nào to “NGŨ PHÚC”

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: